Archive Tag:văn hóa người miền tây

Đám cưới ở miền Tây thì như thế nào?

Đám cưới không đơn thuần chỉ là một khoảnh khắc thiêng liêng, bước ngoặt cuộc đời của đôi lứa đang yêu nhau, mà còn là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc. Ở nước ta mỗi vùng miền, đám cưới sẽ theo những tập tục rất khác nhau, đặc biệt là đám cưới miền Tây có rất nhiều phòng tục, và lễ nghi vô cùng độc đáo không lẫn vào đâu được.

Vậy đám cưới miền Tây có gì đặc biệt? Đám cưới miền Tây xưa và nay khác nhau ra sao, hãy cùng Cần Thơ Phố tìm hiểu nhé.

Rạp cưới xưa được trang hoàng theo phong cách “nhà làm” bởi khái niệm “nhà cưới, rạp cưới” còn rất xa lạ.
  1. Chuẩn bị trước lễ cưới

Tác giả Trần Ngọc Thêm đã từng lý giải trong quyển Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ “việc lấy chồng cưới vợ không chỉ là việc riêng của cá nhân mà là việc chung của gia đình”, vì thế trước khi lễ cưới diễn ra cả nhà trai lẫn nhà gái điều có bước chuẩn bị rất kĩ càng.

Ông bà ta quan niệm nếu tìm vợ/chồng không hợp trong ngũ hành tương sinh thì cuộc sống sẽ không được hòa thuận, nên phong tục xem tuổi từ lâu đã tồn tại trong tâm linh người Việt như một lẽ tất yếu. Vì thế nhà cô dâu sẽ nhận canh thiếp (giấy ghi họ tên, tuổi, quê,) của nhà trai xem có hợp tuổi với con gái mình không rồi quyết định ngày cho nhà trai mang lễ vật đến dạm ngõ. Sau khi thống nhất ngày cưới cả hai gia đình sẽ dùng tre để dựng rạp cưới, và tự trang trí bằng các cây lá mình có: lá dừa nước, đủng đỉnh, lá dừa,…

Dù ngày nay quan niệm về vấn đề tuổi tác là khá thoáng nhưng xem ngày, xem tuổi vẫn là một nghi thức tâm linh không thể thiếu. Nhà trai sẽ chủ động xin canh thiếp của cô dâu để xem ngược lại với trước đây là nhà gái xin canh thiếp nhà trai. Về phần rạp cưới ngày nay, phần lớn các gia đình thường thuê rạp ở các cửa hàng dịch vụ tiệc cưới họ sẽ lo trang trí từ A – Z, một số gia đình có điều kiện sẽ đặt nhà hàng để tổ chức tiệc cưới.

Đặc biệt mọi người thường dùng thiệp cưới để mời khách thay vì mời miệng như trước đây, đồng thời trang phục chuẩn bị cho cô dâu chú rể cũng đa dạng về kiểu dáng hơn không nhất thiết phải là áo dài – khăn đóng.

Nhà tiệc, rạp cưới ngày nay được trang trí hết sức công phu.
  1. Các nghi thức

Trong quyển “Gia Định thành thông chí” của cụ Trịnh Hoài Đức có viết đám cưới Nam Bộ (Vào thế kỷ thứ 19, toàn bộ miền Nam vẫn được gọi là Gia Định) có 6 lễ: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tài, thỉnh kỳ, thân nghinh kèm theo việc người Gia Định còn có tục đến nhà gái làm rể trước rồi mới cưới sau.

Mãi đến sau này khi tách ra vùng ra vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ thì người dân miền Tây vẫn quen gọi tên của 6 lễ lần lượt là: lễ giáp lời, thông gia, cầu thân, đám nói, đám cưới, và phản bái.

Sau này vì khoảng cách địa lý cũng như giảm bớt chi phí trong các lễ cưới mà các lễ nghi thức cũng được giản lược rất nhiều. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp cũng từng chia sẻ rằng đám cưới miền Tây hiện tại gần như chỉ có 3 lễ chính: dạm hỏi (coi mắt), đám nói và đám cưới. Nhưng những tập tục bao đời qua như mâm trầu, khay rượu, mâm lễ vật đến nay vẫn được giữ gìn.

Nghi thức lễ cưới nay được làm đơn giản hơn so với ngày xưa.
Mâm quà cưới vẫn đầy đủ trà rượu trầu cau.
Qùa cưới ngày nay còn có thể bánh kem, trái cây ngoại nhập và các loại nước đóng hộp.
  1. Các điều kiêng kỵ

Ông bà ta vẫn thường nói “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” vì thế để đám cưới – ngày trọng đại của cuộc đời diễn ra thuận lợi suông sẻ tốt nhất chúng ta vẫn nên kiêng cữ một số điều cho đôi vợ chồng trẻ.

Trước đây, đám cưới miền Tây đặc biệt không được tổ chức vào năm Kim Lâu và các ngày giờ được cho là xấu, không mang đến điềm lành cũng như không cưới nếu kỵ tuổi. Trong đám hỏi chú rể bắt buộc phải là người xé quả cau không được dùng dao cắt, cô dâu là người xếp trầu và không được đổi ngược lại. Đặc biệt mẹ đẻ không được theo đoàn đưa dâu để đưa con mình về nhà chồng cũng như mẹ chồng không được trực tiếp ra cửa để đón con dâu, không được đeo nhẫn trước khi đám cưới…

Lương y Vũ Quốc Trung từng nói rằng ở góc độ tâm linh và tâm lý để xét thì tứ Kim Lâu là những nhắc nhở cho chủ nhà phải cẩn thận trước những quyết định trọng đại, tuy nhiên không nên hiểu và áp dụng điều này một cách cứng nhắc sẽ làm “lỡ lứa” những người yêu nhau.

Vì thế này nay đám cưới miền Tây cũng không cón quá khắt khe và kiêng kỵ nhiều như trước nữa.

Rước dâu bằng xuồng máy là hình ảnh quen thuộc của đám cưới miền Tây xưa.
  1. Các cụm từ thường nghe trong lễ cưới của người miền tây

Sau đây là một số cụm từ vô cùng quen thuộc trong đám cưới miền Tây:

+ Vu quy: là cụm từ dành riêng cho nhà cô dâu thường được treo trên trước cổng cưới chỉ buổi lễ tiễn cô dâu về nhà chồng.

+ Tân hôn: là từ thường được treo lên trước cổng cưới nhà chú rể, chỉ việc nhà sắp đón cô dâu mới về.

+ Lễ xuất giá (lễ chịu lạy xuất giá): là buổi lễ mà người lớn trong gia đình nhà gái cùng ngồi theo thứ tự và địa vị trước bàn thờ gia tiên để cô dâu làm lễ lạy xuất giá, và tặng quà cô dâu.

+ Lễ lên đèn: chỉ việc chú rể mang cặp đèn long phụng đến nhà gái, cùng cô dâu thắp sáng và để lên bàn thờ nhà với mong muốn hai vợ chồng sẽ sống với nhau đến răng long đầu bạc.

Các cụm từ vẫn giữ được ý nghĩa và được dùng trong đám cưới hiện đại ngày nay.

Vu quy – buổi lễ tiễn cô dâu về nhà chồng
  1. Phương tiện rước dâu – có gì đặc biệt

Nam Bộ đặc trưng với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằn chịt, nên trong đám cưới nhà trai thường dùng xuồng và những chiếc vỏ lãi để rước dâu trên sông. Đây được xem như một đặc sản của đám cưới miền tây.

Ngày nay, đường xá đã được làm thông thoáng, những chiếc cầu bắc qua sông ngày một nhiều thêm vì thế nhà trai sẽ dùng xe máy, thậm chí là ô tô để rước cô dâu về nhà.

Hình ảnh những đoàn mô tô rước dâu ngày nay không hiếm gặp tại miền Tây.
Trước đây sau đám cưới ba ngày là lễ phản bái, còn hiện tại sau đám cưới cô dâu chú rể  có thể chọn đi du lịch hưởng tuần trăng mật.
  1. Sau lễ cưới

Trong đám cưới miền Tây ngày xưa, sau lễ cưới ba ngày, đôi vợ chồng trẻ sẽ cùng với cha mẹ chồng quay lại nhà cô dâu để làm lễ phản bái, để cô dâu cùng chú rể lạy tạ ơn lần nữa đối với cha mẹ cô dâu và tặng họ 1 số quà, thường là 1 cặp vịt. (Gọi là lễ Nhị Hỷ)

Tuy nhiên, ngày nay một số gia đình có con gái gả đi xa sẽ giản lược bớt cho việc cô dâu chú rể về làm lễ phản bái, hoặc chỉ cần đôi vợ chống về mà không cần bên sui gia nhà trai phải lặn lội sang.

Có thể dễ dàng thấy được do xã hội ngày càng hiện đại, mọi người ăn theo thuở, ở theo thời, đồng thời để tiết kiệm thời gian cũng như các chi phí phát sinh trong đám cưới mà đám cưới miền Tây hiện đại đã có rất nhiều thay đổi so với trước đây. Tuy nhiên dù là xưa hay nay thì đám cưới miền Tây vẫn giữ được nét truyền thống độc đáo vốn có của người miền Tây từ xưa đến nay.

Ẩm thực của người miền Tây – chau chuốt từ bữa cơm nhà

Người miền Tây nói riêng và Nam Bộ nói chung đất đai rộng rãi, khí hậu ôn hòa, lăm cây trái cũng đa dạng, tôm cá đầy sông, ao hồ. Thuận lợi về thiên nhiên, công thêm bản tính siêng năng của dân miền sông nước mà người miền Tây biết bao đời nay có có những bữa ăn ngon – độc – lạ khiến người ta chỉ muốn ăn hoài nức tiếng khắp vùng. Có người nói rằng, “dân miền Tây” xuề xòa dễ tính, bữa ăn cũng rộng rãi và xuề xòa như bản tính của họ, nhưng thực ra không phải, bởi nếu chịu khó tìm hiểu, bạn sẽ thấy rằng mỗi bữa ăn của họ có những nét rất riêng và cả sự chăm chút nữa.

Bữa cơm của người miền Tây , món nào là phải ra vị đó dù là mỗi bữa cơm hàng ngày. Chứ không được nhạt nhạt lại khó ăn. Ảnh: vanhoamientay

Bữa cơm nhà…

“Mùa nào thức nấy” là kiểu ăn cơm điển hình của người miền Tây. Mùa mưa thì có tôm cá nhiều, rau trái tươi tốt, các món cá nướng, lẩu mắm, hay bánh xèo bánh khọt xuất hiện nhiều hơn. Mùa nắng thì các món canh rau giải nhiệt, gà, cá cũng được sử dụng nhiều trong các món kho, xào.

Đặc biệt, mỗi món ăn phải có hương vị đậm đà và đặc trưng riêng. Ví dụ món kho thì phải mặn, không được nhạt nhạt nữa chừng. Nước mắm dùng trong món kho là nước mắm nhỉ, nước mắm Phú Quốc, họ không ưng dùng các loại nước mắm công nghiệp vừa không thơm vừa không ngon.

Món ngọt thì phải ra ngọt nhưng không gắt, loại đường thường dùng bổ sung trong nấu ăn là loại đường phèn (nấu canh, nấu súp) và đường thốt nốt (làm các loại bánh). Món chua thì phải ra chua, dùng me dốt, me sống, khóm, giấm ăn… để giúp món ăn có vị chua tự nhiên nhất mà không làm ảnh hưởng hương vị của món ăn.

Món cay thì cũng phải gọi là cay xé lưỡi, gừng già ớt chín tiêu xay được sử dụng để tăng vị cay cho các món ăn. Bữa ăn cũng không thiếu chén nước mắm trong cùng vài lát ớt chín cắt nhỏ để ăn thì mới… đã.

Như cá kho thì phải kho thật khô, rồi rắc ít tiêu đã rang giòn xay vừa mịn lên trên thì ăn mới đúng vị cá kho miền Tây. Cá lóc hấp canh bầu thì cũng cho ít tiêu xay cho không tanh mùi cá mà món ăn cũng đậm đà hơn. Rồi món cá lóc nướng cũng không được thiếu chén nước mắm gừng, nước mắm cay chấm cùng. Mùa mưa thì món ếch nhái đồng xào sả ớt cũng không được xuề xòa mà thiếu sả băm nhuyễn, ớt chín xào cùng.

Nhiều món ăn xuất hiện từ thời khai hoang khó khăn cho đến nay vẫn được người miền Tây dùng trong các bữa cơm gia đình như cá lóc nướng, thịt rắn nướng hay các món ăn từ mắm.

Lắm món kho là phải mặn để ăn với cơm cho ngon, phải hơi cay để không tanh mùi thịt cá. Ảnh: vanhoamientay
Chén nước mắm thêm vài lát ớt là gia vị không thể thiếu trong mỗi bữa cơm nhà. Ảnh: vanhoamientay

…Và cơm mời khách

Phần lớn người dân miền Tây không có thói quen mời khách đến nhà ăn cơm kiểu “trót lưỡi đầu môi” mời cho có, họ mời là mời thật, thật tình và cả thật lòng. Bữa cơm nhà dù đạm bạc nhưng họ vẫn tự tin mời vị khách nào đó bất chợt đến nhà, bởi sự chăm chút, chế biến đã được gửi vào từng món ăn trên mâm cơm gia đình. Vì thế, khi đến miền Tây, dù thân sơ thì bạn được mời ăn cơm tức là họ mời thật, miệng cười xuề xòa  mời bạn ngồi vào mâm cơm, thì tay chân chạy nhanh đi lấy chén đũa mời khách để cùng ăn cho kịp giờ, cũng không quên nhắc nhỏ bạn rằng “ăn tự nhiên nghe bây”, “đừng có mắc cỡ nghe”.

Và nếu có dịp được họ mời, bạn đừng ngại cầm đũa ngồi vào bàn ăn cùng để thấy bữa ăn  của người miền Tây “thịnh soạn” như thế nào nhé!.